5 lý do cho vay ngang hàng phổ biến ở Việt Nam (phần 1)

Cho vay ngang hàng đang thu hút nhiều sự chú ý, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, như Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Lý do nào khiến cho vay ngang hàng phổ biến tại Việt Nam?

Cho vay ngang hàng, còn được gọi là cho vay P2P, là hoạt động cho vay tiền đối với các doanh nghiệp hoặc cá nhân trên khắp các trang web / ứng dụng trực tuyến. Người cho vay, được gọi là một công ty P2P, cung cấp dịch vụ cho vay với quy trình dễ dàng hơn so với các hoạt động cho vay truyền thống.

Người vay, cả cá nhân hoặc doanh nghiệp, vay tiền từ người cho vay có thể nhận được khoản vay với lãi suất thấp hơn. Điều này không chỉ thu hút người vay mà còn thu hút cả các tổ chức cho vay tại thị trường Việt Nam.

Các công ty cho vay ngang hàng ở Việt Nam thường được tìm thấy nhắm mục tiêu đến những người cụ thể, ngay cả khi các quy định vẫn chưa được sửa. Sau đây là những lý do khiến cho vay ngang hàng phổ biến tại Việt Nam.

1. Có rất nhiều cá nhân không được ưu tiên

Nhiều người Việt Nam vẫn không được ưu tiên cho vay. Điều này có nghĩa là có một thị trường lớn cho một công ty fintech. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển có số lượng lớn công dân sản xuất.

Hơn 60% người Việt Nam ở độ tuổi từ 15 đến 55. Nhóm tuổi này có xu hướng vay tiền để mua nhu cầu của họ, chẳng hạn như nhà, xe hơi và đầu tư.

Tuy nhiên, vì có rất nhiều người Việt Nam vẫn chưa được xếp hạng, cơ hội rất lớn cho một công ty fintech để lấp đầy khoảng trống.

Công ty cho vay P2P thực sự thu hút các tổ chức tài chính do thị trường rộng lớn và thiếu sự cạnh tranh từ các ngân hàng địa phương.

2. Nhiều công ty không thể nhận được khoản vay ngân hàng

Như đã đề cập ở trên, cho vay P2P không chỉ nhắm mục tiêu đến các cá nhân, mà cả các doanh nghiệp. Một lý do cho vay P2P đang thu hút nhiều sự chú ý là vì có rất nhiều công ty không thể vay ngân hàng.

Nói về những con số, có 60% các công ty không thể vay ngân hàng. Hầu hết trong số họ là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu tài sản và vốn.

Cho vay ngang hàng tại Việt Nam

Quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về cho vay P2P

Cho vay ngang hàng, còn được viết tắt là cho vay P2P, là hoạt động cho vay tiền đối với các cá nhân hoặc doanh nghiệp. Hoạt động này được thông qua các dịch vụ trực tuyến giữa tổ chức cho vay với người vay.

Các công ty cho vay ngang hàng thường cung cấp dịch vụ trực tuyến và cố gắng hoạt động với chi phí thấp hơn. Họ cũng cung cấp dịch vụ của họ rẻ hơn so với các tổ chức tài chính truyền thống được cung cấp bởi các ngân hàng. Ngay cả sau khi công ty cho vay P2P đã mất một khoản phí để cung cấp nền tảng khớp và kiểm tra tín dụng cho người vay, bạn vẫn có thể vay tiền với lãi suất thấp hơn. Có nguy cơ người vay vỡ nợ đối với các khoản vay được lấy từ các trang web cho vay ngang hàng.

Vào ngày 8 tháng 7 năm 2019, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bày tỏ quan điểm và khuyến nghị đối với các tổ chức tín dụng tại Việt Nam (TCTD) về hoạt động cho vay ngang hàng (Cho vay P2P). Quan điểm của Ngân hàng Nhà nước như sau:

  • Cho vay P2P được xây dựng trên nền tảng kỹ thuật số kết nối người vay và người cho vay mà không phải thông qua các trung gian tài chính (như TCTD). Tất cả các hoạt động cho vay sẽ được ghi lại trên nền tảng.
  • Ngân hàng Nhà nước thừa nhận rằng Cho vay P2P không được quy định cụ thể bởi các quy định hiện hành.
  • Bên cạnh tiềm năng tạo ra cách huy động vốn bổ sung, P2P Lending có thể dẫn đến những rủi ro sau: (1) thông tin sai lệch được cung cấp bởi P2P Lending về an toàn của sản phẩm, (2) thiếu sự giám sát trên nền tảng của Cho vay P2P về mặt an ninh mạng, (3) Người cho vay P2P sử dụng thông tin khách hàng cho các hoạt động cho vay có mục đích và (4) Cho vay P2P được coi là hoạt động của CI.
  • Nếu một CI tham gia vào thỏa thuận hợp tác với Người cho vay P2P, thì CI nên yêu cầu tổ chức cho vay P2P xuất bản nội dung của sự hợp tác đó và thường xuyên xem xét thông tin được công bố để đảm bảo thông tin đó là chính xác và có hành động thích hợp chống lại không chính xác hoặc không đủ thông tin có thể gây hại cho khách hàng.
Cho vay P2P thông qua các dịch vụ trực tuyến

Một số thông tin về tài trợ tín dụng tại Việt Nam

Tài trợ tín dụng ngắn hạn

Các tổ chức tín dụng có thể cung cấp khoản vay hiệu quả và linh hoạt với kỳ hạn ngắn hơn 1 năm. Bạn có thể thấu chi tối đa giới hạn tín dụng tối đa được phê duyệt hoặc gửi tiền vào tài khoản để giảm số dư chưa thanh toán. Tiền lãi được tính dựa trên số tiền rút thực tế trên cơ sở hàng ngày và được tính vào cuối tháng.

Những lợi ích của tín dụng ngắn hạn:

  • Rút ra linh hoạt và kịp thời cho phép khách hàng phù hợp với yêu cầu dòng tiền;
  • Trả nợ có thể được thực hiện bằng cách chỉ cần ghi có vào tài khoản điều hành;
  • Hỗ trợ khách hàng trong trường hợp dòng tiền không khớp ngắn hạn.

Tài trợ vốn lưu động ngắn hạn

Các tổ chức tín dụng có thể cung cấp cho bạn cơ sở vốn lưu động ngắn hạn để phù hợp với chu kỳ dòng tiền hoạt động. Tất cả các điều khoản có sẵn từ 1 tháng đến 12 tháng và tiền lãi chỉ được tính trên số tiền rút thực tế. Hình thức cơ sở này thường được sử dụng để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động vĩnh viễn.

Những lợi ích:

  • Rút ra linh hoạt và kịp thời cho phép khách hàng phù hợp với yêu cầu dòng tiền;
  • Lãi suất cố định trong suốt thời gian của mỗi lần rút xuống.

Tài trợ tín dụng trong trung hạn và dài hạn

Các khoản vay có kỳ hạn của các tổ chức tín dụng có sẵn trong hơn 1 năm và tối đa 5 năm cho nhiều mục đích của công ty và phổ biến nhất là để tài trợ cho chi phí đầu tư tài sản cố định, thế chấp có thể là tài sản hình thành từ vốn vay. Nguồn trả nợ chính dựa trên tất cả các dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của người vay.

Một số thông tin về tài trợ tín dụng tại Việt Nam

Những lợi ích:

  • Không có số tiền cho vay tối đa. Tất cả các yêu cầu được xem xét trên giá trị của họ;
  • Điều khoản linh hoạt có sẵn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của bạn;
  • Quản lý thanh khoản có thể đạt được do thời hạn dài hơn để phù hợp với hồ sơ dòng tiền.

Vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam (phần 3)

Đăng ký với Ngân hàng Nhà nước

Như đã nói phần trước, các khoản vay trung và dài hạn phải được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước. Các khoản vay ngắn hạn không phải đăng ký, đó là lý do tại sao nhiều doanh nghiệp thích loại hình cho vay này hơn.

Hồ sơ đăng ký bao gồm: Đơn đăng ký; Bản sao công chứng giấy phép đầu tư; v một bản sao và bản dịch tiếng Việt của hợp đồng vay nước ngoài đã ký (được xác nhận bởi người đứng đầu doanh nghiệp).

Nếu doanh nghiệp cần thay đổi đăng ký (gia hạn, thay đổi prop-erty được bảo đảm, v.v.), hồ sơ cần có: Đơn xin thay đổi đăng ký khoản vay; Bản sao của thỏa thuận đã ký chi tiết các thay đổi và bản dịch tiếng Việt (được xác nhận bởi người đứng đầu doanh nghiệp); Bản sao công chứng giấy phép đầu tư; và văn bản chấp thuận những thay đổi từ người bảo lãnh của khoản vay nước ngoài được đề cập.

Nếu khoản vay trung hoặc dài hạn không được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước thì ngân hàng được ủy quyền sẽ không tiến hành chuyển tiền cho bất kỳ khoản rút tiền hoặc trả nợ nào.

Giải ngân và hoàn trả các khoản vay nước ngoài

Việc vay, giải ngân và trả nợ nước ngoài phải được thực hiện thông qua một ngân hàng được ủy quyền tại Việt Nam.

Có 3 trường hợp ngoại lệ cho quy tắc này, đó là:

  • Giải ngân để thanh toán trực tiếp cho người thụ hưởng nước ngoài đối với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu;
  • Giải ngân và trả nợ thông qua tài khoản ở nước ngoài của doanh nghiệp (nếu doanh nghiệp được phép mở tài khoản ở nước ngoài)
  • Giải ngân dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ với các khoản thanh toán trả chậm và trả nợ theo hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.

Liên quan đến khoản vay ngắn hạn, doanh nghiệp không thể thay đổi từ ngân hàng được ủy quyền này sang ngân hàng được ủy quyền khác. Về khoản vay trung hoặc dài hạn, doanh nghiệp có thể đổi sang ngân hàng được ủy quyền mới miễn là thay đổi được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước.

Nếu việc rút tiền ban đầu xảy ra theo một trong những trường hợp ngoại lệ được đề cập ở trên thì doanh nghiệp phải thông báo cho ngân hàng được ủy quyền nơi dự định thực hiện các khoản trả nợ của ngày và số tiền giải ngân được miễn. Thông báo phải được thực hiện bằng văn bản và phải diễn ra trong vòng 5 ngày kể từ ngày rút tiền.

Vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam như thế nào

Vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam (phần 2)

Vay nước ngoài ngắn hạn

Trong thời gian thành lập (ví dụ: xây dựng nhà xưởng, giai đoạn hậu phát hành, v.v.), số dư của các khoản vay ngắn hạn, trung và dài hạn (bao gồm cả các khoản vay trong nước) không được vượt quá giới hạn cho vay hoặc tổng số vốn đầu tư như đã nêu trong khoản đầu tư giấy phép. Một khi doanh nghiệp hoạt động đầy đủ, không có giới hạn về giá trị của các khoản vay ngắn hạn của họ.

Cuối cùng, một khoản vay ngắn hạn có thể được gia hạn trước ngày hết hạn. Tuy nhiên, nếu tổng thời gian sau khi gia hạn lên tới hơn 12 tháng thì các điều kiện cho vay trung và dài hạn sẽ được áp dụng.

Một khoản vay ngắn hạn có thể được gia hạn trước ngày hết hạn
Một khoản vay ngắn hạn có thể được gia hạn trước ngày hết hạn

Cho vay trung và dài hạn

Các đoạn sau đây mô tả chi tiết các điều kiện áp dụng cho cả các khoản vay nước ngoài trung và dài hạn. Khoản vay phải được sử dụng cho các hoạt động liên quan đến ngành nghề kinh doanh được phê duyệt của doanh nghiệp.

Khoản vay phải được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước sẽ gửi văn bản chấp thuận cho doanh nghiệp trong vòng 15 ngày kể từ ngày nộp đơn đăng ký. Không có lúc nào số dư của các khoản vay ngắn, trung và dài hạn của doanh nghiệp (bao gồm cả các khoản vay trong nước) vượt quá giới hạn cho vay hoặc tổng vốn đầu tư như được nêu trong giấy phép đầu tư.

Ví dụ: Giấy chứng nhận đầu tư của Doanh nghiệp A nêu rõ:

Vốn điều lệ: 100.000 USD

Vốn đầu tư 200.000 USD

Số dư hiện tại của các khoản vay trung và dài hạn của Doanh nghiệp A là 50.000 USD

Do đó, doanh nghiệp A được quyền vay và thêm 50.000USD

Nếu Doanh nghiệp A muốn vay hơn 50.000USD, thì phải sửa đổi giấy phép đầu tư để tăng số vốn đầu tư. Thủ tục sửa đổi mất khoảng 2 tháng. Do đó, nhà đầu tư nên cân nhắc kỹ xem họ có cần vay vốn nước ngoài trong tương lai hay không trước khi thiết lập số vốn đầu tư trong hồ sơ xin cấp phép ban đầu.

Vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam (phần 1)

Cho vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam

Các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thường được yêu cầu chấp nhận các khoản vay từ công ty mẹ ở nước ngoài của họ để đáp ứng chi phí khởi nghiệp hoặc hoạt động. Do đó, điều quan trọng đối với các nhà đầu tư đó là phải hiểu các loại khoản vay, điều kiện và thủ tục hành chính nước ngoài khác nhau được quy định trong luật pháp Việt Nam.

Mấu chốt của pháp luật trong lĩnh vực này là Thông tư 09/2004 / TT-Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 21 tháng 12 năm 2004 quy định hướng dẫn vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.

Thông tư 09 bao gồm ba loại cho vay khác nhau:

  • Vay ngắn hạn: tối đa 12 tháng;
  • Cho vay trung hạn: từ 12 đến 36 tháng;
  • Cho vay dài hạn: trên 36 tháng.

Các thủ tục và điều kiện quản lý cho các khoản vay trung và dài hạn rất giống nhau. Điều kiện vay của mỗi loại khoản vay phải tuân thủ các quy tắc và quy định về thủ tục của mọi người.

Có ba loại cho vay chính

Vay nước ngoài ngắn hạn

Một khoản vay nước ngoài ngắn hạn chỉ có thể được sử dụng cho một số mục đích nhỏ, cụ thể là đối với vốn lưu động cho mục đích sản xuất; hoặc là các hoạt động khác liên quan đến ngành nghề kinh doanh đã được phê duyệt của doanh nghiệp.

Một khoản vay ngắn hạn nước ngoài không nên nhằm mục đích hoàn trả một khoản vay có sẵn khác. Các điều khoản chính của khoản vay có thể được các bên tự do thỏa thuận bao gồm thời hạn, lãi suất, phí, …