Vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam (phần 3)

Đăng ký với Ngân hàng Nhà nước

Như đã nói phần trước, các khoản vay trung và dài hạn phải được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước. Các khoản vay ngắn hạn không phải đăng ký, đó là lý do tại sao nhiều doanh nghiệp thích loại hình cho vay này hơn.

Hồ sơ đăng ký bao gồm: Đơn đăng ký; Bản sao công chứng giấy phép đầu tư; v một bản sao và bản dịch tiếng Việt của hợp đồng vay nước ngoài đã ký (được xác nhận bởi người đứng đầu doanh nghiệp).

Nếu doanh nghiệp cần thay đổi đăng ký (gia hạn, thay đổi prop-erty được bảo đảm, v.v.), hồ sơ cần có: Đơn xin thay đổi đăng ký khoản vay; Bản sao của thỏa thuận đã ký chi tiết các thay đổi và bản dịch tiếng Việt (được xác nhận bởi người đứng đầu doanh nghiệp); Bản sao công chứng giấy phép đầu tư; và văn bản chấp thuận những thay đổi từ người bảo lãnh của khoản vay nước ngoài được đề cập.

Nếu khoản vay trung hoặc dài hạn không được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước thì ngân hàng được ủy quyền sẽ không tiến hành chuyển tiền cho bất kỳ khoản rút tiền hoặc trả nợ nào.

Giải ngân và hoàn trả các khoản vay nước ngoài

Việc vay, giải ngân và trả nợ nước ngoài phải được thực hiện thông qua một ngân hàng được ủy quyền tại Việt Nam.

Có 3 trường hợp ngoại lệ cho quy tắc này, đó là:

  • Giải ngân để thanh toán trực tiếp cho người thụ hưởng nước ngoài đối với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu;
  • Giải ngân và trả nợ thông qua tài khoản ở nước ngoài của doanh nghiệp (nếu doanh nghiệp được phép mở tài khoản ở nước ngoài)
  • Giải ngân dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ với các khoản thanh toán trả chậm và trả nợ theo hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.

Liên quan đến khoản vay ngắn hạn, doanh nghiệp không thể thay đổi từ ngân hàng được ủy quyền này sang ngân hàng được ủy quyền khác. Về khoản vay trung hoặc dài hạn, doanh nghiệp có thể đổi sang ngân hàng được ủy quyền mới miễn là thay đổi được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước.

Nếu việc rút tiền ban đầu xảy ra theo một trong những trường hợp ngoại lệ được đề cập ở trên thì doanh nghiệp phải thông báo cho ngân hàng được ủy quyền nơi dự định thực hiện các khoản trả nợ của ngày và số tiền giải ngân được miễn. Thông báo phải được thực hiện bằng văn bản và phải diễn ra trong vòng 5 ngày kể từ ngày rút tiền.

Vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam như thế nào

Vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam (phần 1)

Cho vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam

Các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thường được yêu cầu chấp nhận các khoản vay từ công ty mẹ ở nước ngoài của họ để đáp ứng chi phí khởi nghiệp hoặc hoạt động. Do đó, điều quan trọng đối với các nhà đầu tư đó là phải hiểu các loại khoản vay, điều kiện và thủ tục hành chính nước ngoài khác nhau được quy định trong luật pháp Việt Nam.

Mấu chốt của pháp luật trong lĩnh vực này là Thông tư 09/2004 / TT-Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 21 tháng 12 năm 2004 quy định hướng dẫn vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.

Thông tư 09 bao gồm ba loại cho vay khác nhau:

  • Vay ngắn hạn: tối đa 12 tháng;
  • Cho vay trung hạn: từ 12 đến 36 tháng;
  • Cho vay dài hạn: trên 36 tháng.

Các thủ tục và điều kiện quản lý cho các khoản vay trung và dài hạn rất giống nhau. Điều kiện vay của mỗi loại khoản vay phải tuân thủ các quy tắc và quy định về thủ tục của mọi người.

Có ba loại cho vay chính

Vay nước ngoài ngắn hạn

Một khoản vay nước ngoài ngắn hạn chỉ có thể được sử dụng cho một số mục đích nhỏ, cụ thể là đối với vốn lưu động cho mục đích sản xuất; hoặc là các hoạt động khác liên quan đến ngành nghề kinh doanh đã được phê duyệt của doanh nghiệp.

Một khoản vay ngắn hạn nước ngoài không nên nhằm mục đích hoàn trả một khoản vay có sẵn khác. Các điều khoản chính của khoản vay có thể được các bên tự do thỏa thuận bao gồm thời hạn, lãi suất, phí, …