Luật chống tiền tệ và luật khủng hoảng tại Việt Nam (phần 2)

Theo đó, các pháp nhân thương mại hiện có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý về buôn lậu, trốn thuế, chứng khoán và các tội liên quan đến bảo hiểm, rửa tiền và tài trợ khủng bố.

Các ngân hàng tại Việt Nam đã được ngân hàng nhà nước chỉ thị không tạo điều kiện hoặc tham gia vào các giao dịch liên quan đến Iran. Chi tiết của các hướng dẫn này không rõ ràng vì chúng được ‘phân loại’. Ngân hàng nhà nước lo ngại về các hình phạt tiềm ẩn có thể bị áp dụng bởi Văn phòng Kiểm soát Tài sản Nước ngoài thuộc Bộ Tài chính Hoa Kỳ nếu bất kỳ ngân hàng Việt Nam nào bị phát hiện tham gia hoặc tạo điều kiện cho các giao dịch bị cấm của Iran.

Các hình phạt này có thể bao gồm các lệnh cấm các tổ chức tài chính Hoa Kỳ duy trì tài khoản đại lý tại các ngân hàng Việt Nam, điều này có thể sẽ đóng băng bất kỳ ngân hàng Việt Nam nào là đối tượng của các hình phạt này ra khỏi thị trường ngân hàng toàn cầu. Trọng tâm và mối quan tâm chính của các chỉ thị của ngân hàng nhà nước có lẽ là để bảo vệ hệ thống ngân hàng Việt Nam, vốn đang ngày càng hội nhập sâu hơn vào hệ thống ngân hàng toàn cầu, thay vì bất kỳ chính sách nào nhằm hỗ trợ Hoa Kỳ hoặc, vì vấn đề đó, áp dụng chế độ trừng phạt của EU. đến Iran.

Ngoài các chỉ đạo của ngân hàng nhà nước, các ngân hàng Việt Nam cũng theo dõi các lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ, Liên hợp quốc và EU. Nguyên nhân do hầu hết các ngân hàng Việt Nam hiện đã có sự hiện diện quốc tế và các doanh nghiệp của họ được tích hợp vào mạng lưới ngân hàng quốc tế và hệ thống thanh toán.

Tin tức ngành ngân hàng

Luật chống tiền tệ và luật khủng hoảng tại Việt Nam (phần 1)

Việt Nam trở thành thành viên của Nhóm Châu Á / Thái Bình Dương về Rửa tiền (APG) vào tháng 5 năm 2007. Để củng cố hệ thống phòng, chống rửa tiền (AML), Việt Nam đã ban hành luật AML và một nghị định thi hành, và NHNN đã thành lập Đơn vị Tình báo Tài chính. Việt Nam đã trải qua Đánh giá lẫn nhau APG lần đầu tiên vào tháng 11 năm 2008.

Theo luật và quy định của AML, tùy thuộc vào loại giao dịch và các yếu tố khác liên quan đến khách hàng hoặc giao dịch của họ, người báo cáo sẽ phải tuân thủ các loại AML khác nhau và nghĩa vụ tài trợ chống khủng bố. Các nghĩa vụ này bao gồm:

  • Tạo và duy trì các quy định nội bộ về AML;
  • Thực hiện và thu thập thông tin khách hàng quen biết của bạn;
  • Báo cáo và công bố thông tin cho NHNN và các cơ quan có thẩm quyền khác;
  • Áp dụng các biện pháp tạm thời theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Đáng chú ý, ngưỡng giá trị giao dịch phải báo cáo tương đối thấp, xấp xỉ 300 triệu đồng.

Vào năm 2015, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Hình sự mới, có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2018. Những thay đổi đáng kể nhất trong số các nội dung được Bộ luật Hình sự mới ban hành là việc mở rộng các tội danh tham nhũng liên quan đến khu vực tư nhân và sự ra đời của các doanh nghiệp. trách nhiệm hình sự.

Theo Bộ luật Hình sự mới, các cá nhân thuộc bất kỳ quốc tịch nào làm việc trong khu vực tư nhân hiện có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tham ô và đưa, nhận hoặc môi giới hối lộ, vốn trước đây chỉ áp dụng cho khu vực công. Cùng với sự thay đổi này, định nghĩa hối lộ cũng được mở rộng để bao gồm cả lợi ích hữu hình và vô hình. Bộ luật Hình sự mới cũng lần đầu tiên quy định trách nhiệm hình sự của doanh nghiệp áp dụng đối với pháp nhân thương mại.

Luật chống tiền tệ và luật khủng hoảng tại Việt Nam

5 lý do cho vay ngang hàng phổ biến ở Việt Nam (phần 1)

Cho vay ngang hàng đang thu hút nhiều sự chú ý, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, như Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Lý do nào khiến cho vay ngang hàng phổ biến tại Việt Nam?

Cho vay ngang hàng, còn được gọi là cho vay P2P, là hoạt động cho vay tiền đối với các doanh nghiệp hoặc cá nhân trên khắp các trang web / ứng dụng trực tuyến. Người cho vay, được gọi là một công ty P2P, cung cấp dịch vụ cho vay với quy trình dễ dàng hơn so với các hoạt động cho vay truyền thống.

Người vay, cả cá nhân hoặc doanh nghiệp, vay tiền từ người cho vay có thể nhận được khoản vay với lãi suất thấp hơn. Điều này không chỉ thu hút người vay mà còn thu hút cả các tổ chức cho vay tại thị trường Việt Nam.

Các công ty cho vay ngang hàng ở Việt Nam thường được tìm thấy nhắm mục tiêu đến những người cụ thể, ngay cả khi các quy định vẫn chưa được sửa. Sau đây là những lý do khiến cho vay ngang hàng phổ biến tại Việt Nam.

1. Có rất nhiều cá nhân không được ưu tiên

Nhiều người Việt Nam vẫn không được ưu tiên cho vay. Điều này có nghĩa là có một thị trường lớn cho một công ty fintech. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển có số lượng lớn công dân sản xuất.

Hơn 60% người Việt Nam ở độ tuổi từ 15 đến 55. Nhóm tuổi này có xu hướng vay tiền để mua nhu cầu của họ, chẳng hạn như nhà, xe hơi và đầu tư.

Tuy nhiên, vì có rất nhiều người Việt Nam vẫn chưa được xếp hạng, cơ hội rất lớn cho một công ty fintech để lấp đầy khoảng trống.

Công ty cho vay P2P thực sự thu hút các tổ chức tài chính do thị trường rộng lớn và thiếu sự cạnh tranh từ các ngân hàng địa phương.

2. Nhiều công ty không thể nhận được khoản vay ngân hàng

Như đã đề cập ở trên, cho vay P2P không chỉ nhắm mục tiêu đến các cá nhân, mà cả các doanh nghiệp. Một lý do cho vay P2P đang thu hút nhiều sự chú ý là vì có rất nhiều công ty không thể vay ngân hàng.

Nói về những con số, có 60% các công ty không thể vay ngân hàng. Hầu hết trong số họ là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu tài sản và vốn.

Cho vay ngang hàng tại Việt Nam

Vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam (phần 3)

Đăng ký với Ngân hàng Nhà nước

Như đã nói phần trước, các khoản vay trung và dài hạn phải được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước. Các khoản vay ngắn hạn không phải đăng ký, đó là lý do tại sao nhiều doanh nghiệp thích loại hình cho vay này hơn.

Hồ sơ đăng ký bao gồm: Đơn đăng ký; Bản sao công chứng giấy phép đầu tư; v một bản sao và bản dịch tiếng Việt của hợp đồng vay nước ngoài đã ký (được xác nhận bởi người đứng đầu doanh nghiệp).

Nếu doanh nghiệp cần thay đổi đăng ký (gia hạn, thay đổi prop-erty được bảo đảm, v.v.), hồ sơ cần có: Đơn xin thay đổi đăng ký khoản vay; Bản sao của thỏa thuận đã ký chi tiết các thay đổi và bản dịch tiếng Việt (được xác nhận bởi người đứng đầu doanh nghiệp); Bản sao công chứng giấy phép đầu tư; và văn bản chấp thuận những thay đổi từ người bảo lãnh của khoản vay nước ngoài được đề cập.

Nếu khoản vay trung hoặc dài hạn không được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước thì ngân hàng được ủy quyền sẽ không tiến hành chuyển tiền cho bất kỳ khoản rút tiền hoặc trả nợ nào.

Giải ngân và hoàn trả các khoản vay nước ngoài

Việc vay, giải ngân và trả nợ nước ngoài phải được thực hiện thông qua một ngân hàng được ủy quyền tại Việt Nam.

Có 3 trường hợp ngoại lệ cho quy tắc này, đó là:

  • Giải ngân để thanh toán trực tiếp cho người thụ hưởng nước ngoài đối với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu;
  • Giải ngân và trả nợ thông qua tài khoản ở nước ngoài của doanh nghiệp (nếu doanh nghiệp được phép mở tài khoản ở nước ngoài)
  • Giải ngân dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ với các khoản thanh toán trả chậm và trả nợ theo hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.

Liên quan đến khoản vay ngắn hạn, doanh nghiệp không thể thay đổi từ ngân hàng được ủy quyền này sang ngân hàng được ủy quyền khác. Về khoản vay trung hoặc dài hạn, doanh nghiệp có thể đổi sang ngân hàng được ủy quyền mới miễn là thay đổi được đăng ký với Ngân hàng Nhà nước.

Nếu việc rút tiền ban đầu xảy ra theo một trong những trường hợp ngoại lệ được đề cập ở trên thì doanh nghiệp phải thông báo cho ngân hàng được ủy quyền nơi dự định thực hiện các khoản trả nợ của ngày và số tiền giải ngân được miễn. Thông báo phải được thực hiện bằng văn bản và phải diễn ra trong vòng 5 ngày kể từ ngày rút tiền.

Vay và trả nợ nước ngoài tại Việt Nam như thế nào